++ CHÀO MỪNG CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM BLOG CỦA LÊ HIẾU ++ MONG CÁC BẠN ĐÓNG GÓP Ý KIẾN ĐỂ BLOG NGÀY CÀNG HOÀN THIỆN HƠN ++

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2010

Năm Dần Nói Chuyện Cọp Trong Nghệ Thuật

Năm Dần nói chuyện cọp trong nghệ thuật
Hiếu Lê
T4, 27/01/2010 - 08:51
WGPSG -- Năm Canh Dần sắp đến, hình tượng của Chúa Sơn Lâm lại lừng lững xuất hiện cách đặc biệt trong hơn 360 ngày sắp tới. Hình tượng oai phong này cũng trở thành nguồn cảm hứng để Hoạ sĩ Hiếu Lê viết nên bài cảm tác dưới đây:

Chỉ còn ít ngày nữa chúng ta sẽ bước qua một năm âm lịch mới, năm Canh Dần, năm con Cọp! Theo luật tuần hoàn của Tạo hóa, Xuân, Hạ, Thu, Đông xoay vần: Trâu đi thì Cọp đến.

Xưa nay cọp vẫn là một ác thú. Nó hung hãn nhất trong 12 con giáp. Nói về sự khôn ngoan, cọp không thể sánh với khỉ và chuột. Nói về sự kiên trì, sao cọp có thể sánh với trâu, nhanh không bằng ngựa, uy vũ sao sánh bằng Rồng, luồn lách và hiển độc không thể bằng rắn. Thế nhưng, trong 12 con thú, có lẽ cọp hội đủ các đặc chất: dũng mãnh, can trường, hiên ngang, dám tấn công cả những con thú to khỏe hơn nó. Nhờ những đặc chất ấy mà cọp là một trong những loài trở thành biểu tượng của sự hùng cường và sức mạnh vô song, vì thế nó được con người thần thánh hóa, không riêng ở nước ta mà cả nhiều nước khác cũng đưa cọp dự phần vào đời sống xã hội, văn hóa, và nghệ thuật.

I/ TRONG VĂN CHƯƠNG

Rất nhiều tác phẩm văn chương, những truyện ngụ ngôn, nói về cọp, như truyện ngụ ngôn Cọp và Trí khôn Con người, Ngũ Hổ Tướng trong Tam Quốc Chí của La Quán Trung, tiểu thuyết Cọp Trắng, và đặc biệt trong bài thơ Nhớ Rừng của Thế Lữ:

Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng buồn hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội,
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng.
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc,
Trong hang tối, mắt thần đã quắc,
Là khiến cho mọi vật đều im hơi.
Ta biết ta là chúa tể muôn loài,
Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi.
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan,
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn,
Ta lặng ngắm giang sơn đổi mới…

Ngôn ngữ trong thơ được dùng không cầu kỳ, không hoa mỹ, mà dung dị và táo tợn, ý tưởng chuyển biến nhịp nhàng nhưng dứt khoát, kết hợp nhuần nhị giữa Nỗi Nhớ và Rừng, tạo nên một con cọp độc đáo trong thi ca Việt Nam.

II/ TRONG TRANH

Hình tượng cọp có mặt trên các phù điêu bằng gỗ, đá, đồng, ở các đền đài, lăng miếu, trong dòng tranh Đông Hồ của phố Hàng Trống từ xa xưa, nhất là trong các đồ thủ công mỹ nghệ. Tranh vẽ Cọp rất phong phú, đa dạng, không chỉ giới hạn ở nơi thờ tự, trong cung đình, mà còn phổ biến ngoài dân gian.

Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, cọp là con vật được tôn thờ từ lâu, tên của nó được thần hóa và được gọi là ‘Ngài, ‘Ông Ba Mươi,’ ‘Hổ.’ Nó được tạo dựng thành biểu tượng của sức mạnh của niềm tin. Tranh vẽ được biết đến nhiều nhất, qua nhiều thế hệ, là bức Ngũ Hổ của phố Hàng Trống, được vẽ trên giấy khổ 55 cm x 75 cm. Nó vẽ tả năm con cọp được bố cục cân đối trên không gian được định sẵn, mỗi con một dáng: con đứng, con ngồi, con lướt gió… Đây là loại tranh bản (khắc gỗ rồi in trên giấy). Nhưng cách thức của dòng tranh Hàng Trống là chỉ in bảng nét rồi dùng cọ lông để tô màu. Trong quá trình tô màu, các nghệ nhân vờn màu, tạo độ đậm nhạt, chuyển sắc sáng tối, âm dương, nên cọp trong tranh không còn là mảng bẹt như cách thể hiện của dòng tranh đương thời. Với cách thức sáng tạo độc đáo ấy, các nghệ nhân Hàng Trống không chỉ tạo nét đặc thù của dòng tranh riêng mà còn làm bật lên sức sống nội tại của tác phẩm. Người xem tranh rất dễ nhận ra điều này qua hình ảnh những con cọp: những khối thân chắc khỏe, dáng ngồi, thế đứng đường bệ, oai phong, đặc biệt là những cái đuôi như đang ve vẩy hoặc uốn cong lên trước khi đập xuống đất để phóng mình lên. Độc đáo nhất phải kể đến đôi mắt cọp: hùng hực, ánh lên sức mạnh của loài chúa sơn lâm.

Màu sắc trong bức Ngũ Hổ là một thế giới hòa sắc, lộng lẫy, uy linh, nhưng vẫn hòa hợp với năm màu: xanh, đỏ, trắng, vàng, đen trên năm con cọp. Lối dùng màu này của các nghệ nhân thể hiện rõ một hàm ý và mang tính triết lý sâu xa của quan niệm dân gian truyền thống:

- Hoàng hổ: Cọp vàng, tượng trưng hành Thổ, ứng với trung ương chính điện.
- Thanh hổ: Cọp xanh, tượng trưng hành Mộc, ứng với phương Đông.
- Bạch hổ: Cọp trắng, tượng trưng hành Kim, ứng với phương Tây.
- Xích hổ: Cọp đỏ, tượng trưng hành Hỏa, ứng với phương Nam.
- Hắc hổ: Cọp đen, tượng trưng hành Thủy, ứng với phương Bắc.

Tranh ngũ hổHoàng hổThanh hổBạch hổXích hổHắc hổVà như thế, 5 con cọp được vẽ bằng năm màu khác nhau tượng trưng ngũ hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Quan niệm tạo hình, cách phối màu, mang tính ước lệ trong nghệ thuật dân gian xưa là phổ biến, mà nếu gạt qua cái vỏ ngoài của sự mê tín, dị đoan, thì đây là bức tranh có giá trị nghệ thuật cao.

III/ TRONG TƯỢNG VÀ PHÙ ĐIÊU

Tượng và phù điêu cọp bằng đá đã có từ thời nhà Trần, Lê, nổi tiếng ở các chùa, lăng tẩm, như Chùa Đại Bi (Hoài Đức, Hà Tây), và đặc biệt là Cọp Đá ở Lăng Trần Thủ Độ, Vũ Thư, Thái Bình. Đây là một tác phẩm điều khắc đẹp trong nền nghệ thuật cổ Việt Nam: Con cọp ở tư thế nằm, dáng vẻ ung dung, hai chân trước sải dài, hai chân sau thu gọn trong bụng, đầu ngẩng cao, đôi mắt lim dim, hai tai dỏng lên như đón nghe một tiếng động nào đó vọng về từ chốn xa xăm.

Khối đá không to như con cọp thực ngoài đời, nhưng nghệ thuật cổ đã khắc dựng một hình tượng có sức lay động tình cảm người xem. Đứng trước tác phẩm, trong khung cảnh của công trình tưởng niệm người có công tạo dựng nhà Trần, giữ gìn sơn hà, xã tắc trên mảnh đất quê hương Việt Nam, ta thấy bùng lên chất sử thi bi hùng. Người tạc tượng đã thổi hồn vào đá, ban cho nó một sức sống tinh thần của một thời liệt oanh, của một con người trí dũng, toàn tâm, toàn ý, vì dân, vì nước.


Cọp trong điêu khắc cổ Việt Nam thường là ‘cọp vồ mồi,’ ‘cọp ngắm trăng, ‘cọp và rồng,’ để diễn tả sức mạnh, ý chí, và khai thác chất thơ trong cái oai của chúa sơn lâm. Người ta không dùng ‘cương’ để biểu hiện sức mạnh, mà dùng ‘nhu’ để biểu hiện ‘chất hùng,’ ‘chất thép.’


IV/ VÀ TRONG NGHỆ THUẬT HIỆN ĐẠI

Với sự tiến bộ như vũ bão của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin, con người văn minh hơn, giàu có hơn, hưởng thụ nhiều hơn, và với sự ra đời của trường phái hậu hiện đại, bản thân cọp hầu như tuyệt chủng, vì ô nhiễm môi trường, phá hủy rừng để lấy gỗ. Cọp chỉ còn thấy ở các bảo tàng viện, phim ảnh, sách vở, hoặc trong những bộ sưu tầm của các đại gia giàu có, dưới dạng da hổ, cao hổ cốt, v.v… Và có lẽ đó chính là hình ảnh của nghệ thuật hậu hiện đại, được triễn lãm, trưng bày một cách khéo léo ở các… cửa hàng! Đọc thêm!

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2010

Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2010

Họa sĩ Kim Long và Cỏi Tâm Linh


Nẻo  Về của Kim Long

“Mổi một con người,trong sâu thẳm,đều là một nhà thơ,một nghệ sĩ,bởi một bài thơ hay,một bức tranh đẹp,đều có tác dụng đưa con người tiến xa hơn,vượt lên trên cấp độ của một con vật,chỉ có lo miếng ăn và sống bằng cảm tính của bản năng.Thực vậy,cái đẹp đả cứu rổi nhân loại,đưa con người có nếp sống văn hóa,vượt thoát đời sống động vật để bay lên cỏi bao la của Tâm và Linh”.Lời tâm sự của họa sĩ Kim Long.
Kim Long,tên thật là Nguyển quốc Hoàng,sinh năm 1946 tại Huế.Học Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế.Năm 1970 theo gia đình vào Sài Gòn lập nghiệp.Niềm đam mê hội họa trong anh bị cuốn theo dòng đời và phận người,giống như nước non,nặng một lời thề,nước đi,đi mải chẳng về cùng non.Nhửng lúc trôi dạt bồng bềnh đó trong anh luôn có tiếng nói thầm kín của chính mình,trăn trở,mơ ước thoát ra khỏi cuộc sống đời thường,nay còn mai mất, muốn được bày tỏ,có khi bày tỏ được thì củng chỉ là tiếng nói dở dang.



Chử rằng xuân bất tái lai

Hôm nay hoa nở,ngày mai hoa tàn

Mặc ai nay lụa,mai hàng

Xin anh đừng có phụ phàng vải xô.

.Nhưng cuộc đời luôn có nhửng bí ẩn dở dang mà không dang dở,chính tiếng nói thầm của tâm linh đó hằng đêm lại thôi thúc anh cầm cọ.Lặng lẽ ,âm thầm,sáng sáng,chiều chiều anh sống với màu sắc và nhửng hoài niệm tuổi thơ,tràn ngập niềm vui,dưới bóng Kinh thành dậy tiếng ve ngân.

Năm 2008 tại Festival Huế,cùng với họa sĩ Nguyễn thượng Hải,họa sĩ Dương đình Hùng,anh trở về Huế mở cuộc triển lãm mang tên “ Về Lại” trong một phòng tranh nhỏ trên đường Lê thánh Tôn nội thành Huế,nơi được mệnh danh là “Tuyệt tình cốc” của nhóm văn nghệ sỉ trước năm 1975.Thầm lặng,khiêm tốn nhưng nhửng bức tranh sơn dầu đen trắng,anh ra mắt dạo ấy,đả gợi cho người xem,cái cảm giác ấm áp,sâu nặng tình quê.Tâm thức Huế trong mổi bức tranh dường như có khả năng lay động kỳ lạ đối với người thưởng ngoạn.

Ngày 9/9/2009 tại Trung Tâm Văn Hóa Công Giáo Việt Nam,số 6 Tôn Đức Thắng Q 1 Tp HCM anh cùng triển lãm chủ đề” Dấu Án Đức Tin lần II”, chung với 61 họa sĩ,điêu khắc gia,nổi tiếng trong và ngoài nước,với các tác phẩm Cỏi Thực,Phố Núi,lần này tranh anh đả vượt qua giai đoạn tình quê,về lại con đường hồn nhiên,trong trẻo.Kim Long đả đem cả chất thơ,chất thiền đến với hội họa,trong tranh Cỏi Thực của anh nhìn không thấy thực,mà là thực,còn Phố Núi thì trầm mặc,cổ kính dễ gợi cho người xem nao lòng.

Ngày 21/12/2009 tại Trung Tâm Mục Vụ Đa Minh Ba Chuông,190 Le văn Sỹ Q.PN,TpHCM anh củng triển lãm tranh chủ đề” Đêm Đông Không Nhà” chung với 59 họa sĩ ,điêu khắc gia,nhiếp ảnh gia,nhằm mục đích gây quỹ lì xì cho người lang thang không nhà vào đêm giao thừa Canh Dần.Lần này với các tác phẩm có chung tên Nẻo Về 1 và 2. thì sơn dầu được phối hợp với thủy mặc,tạo cảm giác cho người xem đi vào không gian tỉnh lặng đến lạ thường.Đối diện với tranh anh,người xem không có cảm xúc mạnh,nhưng tâm hồn nhẹ nhành thanh thoát như vừa uống một chung rươu ngon,vào đêm giao thừa vậy.

Nếu như nhạc sĩ Trịnh công Sơn là Ra Đi{bao nhiêu năm rồi còn mải ra đi}thì họa sĩ Kim Long lại là Nẻo Về, bàng bạc đây đó xuyên suốt tất cả tác phẩm của anh.Quả thật nhửng tác phẩm Nẻo Về hiện nay là kết quả của thời gian ,trăn trở.Tâm linh trong tranh của anh là tác động tích tụ của nhiều nghìn khoảnh khắc.

Hiếu Lê Đọc thêm!

Chủ Nhật, 3 tháng 1, 2010

Nguồn Sống


THƯ GIÁNG SINH 2009
Nhân dip Đại lể Giáng Sinh 2009, lể của các lể và năm mới sắp đến ,tôi Lê Hiếu thay mặt Ban mỹ Thuật Đa Minh,kínhgửi đến quý Cha,quý đồng nghiệp,cùng các thân hửu,nghệ sĩ gần xa lời chúc chân thành nhất của tôi.Giáng Sinh tự nghìn xưa là một kho tàng vô tận của vui tươi,ấm cúng và bìnhan .Nguyện xin Thiên Chúa ban muôn ơn lành và vạn sự như ý cho tất cả cộng đoàn.

Kính thưa các bạn,nhìn lại hai năm qua với tâm niệm,vẻ tranh là phương tiện để tu tập,hội họa rất gần với tôn giáo,vì nó xuất phát từ tâm con người.Bởi lẻ nghệ thuật vốn dỉ là vô cầu,vì vô cầu nên nó hướng đến một cái gì đó rất cao ,.Ban mỹ thuật Đa Minh được cha Giuse Pham hưng Thịnh.op thành lập,ngày 23/3/2008 sau cuộc triển lảm Mỹ Thuật Tôn Giáo và Nhân Văn lần I,trực thuộc Trung Tâm Mục Vụ Đa Minh,với sự chỉ đạo của Cha giám đốc Anphong Vũ đức Trung.op,mở ra trang web:dominiart.net,là diển đàn mỹ thuật công giáo đầu tiên tại Việt Nam,kể từ 50 năm thành lập hàng giáo phẩm VN cho đến nay. Tuy chưa đạt được nhửng kết quả mong muốn,nhưng anh em trong ban củng đả cố gắng hết sức , có thể, thấy rỏ,qua tổ chức các cuộc triển lảm,Phục Sinh,Giáng Sinh Giửa Đời Thường,Thầy và Trò,Niềm Tin Giửa Đời Thường ,tai giáo xứ Đa Minhvà đỉnh cao là tổ chức triển lãm Dấu Ấn Đức Tin lần 2 taị Trung Tâm Công Giáo VN,Hội Đồng Giám Mục VN được Đức Hồng Y Phạm minh Mẩn,ghi vào sổ lưu niệm”.Đây là cuộc triển lảm mỹ thuật lịch sử tại VN”ngày 9/9/2009.
Tất cả chúng ta,nhửng người anh em của tôi đả xả thân,nổ lực,phát triển mỹ thuật tôn giáo với tâm vô cầu,nhưng vẩn còn nhiều khoản cách khách quan,gây ra nhiều sự hiểu lầm ngoài ý muốn ,làm xuống tinh thần và mất phương hướng của một số anh em cầm cọ.
Mỹ thuật tôn giáo là một chủ đề không mới,nhưng không ai làm vì con người và tác phẩm của họ không thuộc về thế gian này.Tại sao không thuộc về thế gian này? Vì thế gian này thuộc quyền của Thần Tài,nhửng ai đi ngược lại quyền lợi của thần tài sẻ bị đóng đinh cho đến chết , chính vì thế,Chúng ta hảy bình tâm nhìn sự kiện ngày 21/11/2009 vừa qua Đức Thánh Cha Benedicto XVI đả mời 500 nghệ sĩ thế giới đến nhà nguyện Sistina,RÔMA nhằm mục đích:”bày tỏ và lập lại tình thân hửu của Giáo Hội với giới Nghệ Thuật” Câu chuyện ấy giúp chúng ta hiểu rằng từ xưa cho tới nay,khắp nơi trên trái đất này ,Giáo Hội và giới Nghệ Thuật luôn luôn không có tình thân hửu ,nên Đức Thánh Cha muốn hàn gắn lại khoảng cách của tình thân hửu ,vốn dĩ như nước với lửa,như cao với thấp,như âm với dương .Đả từ lâu giai cấp tu sỉ tự sâu thẳm trong tâm luôn xem giới nghệ thuật là dư thừa,là không cần thiết cho việc tu trì , có củng tốt,không có càng tốt hơn cho việc nên Thánh.Các Ngài là bậc Thánh luôn bận rộn việc mục vụ, dạy học và cứu độ loài người ,nên không có thời gian dành cho nghệ thuật, vì là Thánh nêncác ngài cứ phải cười,nói,luôn tỏ ra thân thiện với các nghệ sĩ, nhưng thật ra bên trong luôn có khoảng cách, giửa Thánhvà Người.
Đó chỉ là khoản cách giửa giới nghệ thuật và giới tu sỉ,còn công chúng thì sao?Tin mừng của Thánh Mác cô ,chương 5, có ghi lại phép lạ Chúa Giêsu đả làm,khi trục xuất một đạo binh quỷ ra khỏi một người ,cho chúng nhập vào một đàn heo,khiến cả đàn heo nhảy xuống biển mà chết,dân làng các nơi kéo đến xem rất đông ,hoan hô,reo hò,và cuối cùng họ yêu cầu Đức Giêsu đi nơi khác.Vì họ sợ đàn heo của họ củng sẻ bị Người đuổi xuống biển mà chết hết.Thế là đả rỏ,thiên hạ từ xưa cho đến nay, đàn heo quan trong hơn là sự hiện diện của Đức Giêsu.Họ tò mò với phép lạ,với nghệ thuật {vì nghệ thuật củng là một phép lạ có thể cứu rổi một con người},nhưng họ lại sợ cái mới,cái lạ đó làm tổn hại đến tài sản của họ.Tóm lại đối với công chúng,một bức tranh,một bản nhạc là vô ích so với một con heo.
Lại một lần nửa Thiên Chúa Giáng Sinh ở Giáo Xứ Đa Minh Ba Chuông, Ban Mỹ Thuật Đa Minh bước sang năm thứ ba với nhiều khó khăn, thách thức,khách quan và chủ quan như đả nêu trên.Tôi kêu gọi anh em trong ban mỹ thuật, hảy cùng tôi nổ lực khiêm nhường cầu nguyện, nhiều hơn nửa cho nhửng thử thách ,của chúng ta, của con đường tu tập làm Người hiện nay củng như sắp tới. Vì Chúa Giesu của chúng ta chưa bao giờ hứa hẹn một cuộc sống toàn là nhửng hoa hồng hoặc nhung gấm cho nhửng ai theo Ngài. Thực vậy bản thân Ngài là Thiên Chúa,nghệ sĩ của các nghệ sĩ giáng thế làm người rất đơn sơ và mộc mạc,vì người” sinh ngoài đồng,sống ngoài đường và chết trên đồi”để mang lại nguồn sống, vui tươi,ấm cúng và bình an cho tất cả chúng ta,trong mùa giáng sinh 2009
Đọc thêm!

Người Mẹ

Vũ Lưu Xuân
Nắng sáng xuyên qua kẽ lá thưa, trong vắt như giọt thuỷ tinh, hanh hanh vàng. Những tiếng chim sớm không đủ làm xôn xao bầu trời tai tái, tĩnh lặng, đang lờ đờ ngả sang đông. Ông già đầu điểm bạc, ngồi trước giá vẽ, bất động, cố tập trung. Cạnh ông là một cô gái.
Cô, dáng vật vờ, vô hồn, cặp mắt thẫn thờ, tê liệt, hướng vào một khoảng không gian dường như không chiều sâu, dường như không mầu sắc, mọi hình khối dường như nhạt nhoà. Ông già lấy thỏi than, bắt đầu phác thảo. Ở trung tâm bức tranh, chếch xuống phía dưới, xuất hiện một hài nhi, mới chào đời. Đứa bé đang khóc, đôi mắt chưa kịp mở đã nhắm khít lại, nhỏ như sợi chỉ. Ông húng hắng ho làm cô gái giật mình, cô liếc sang, trên khuôn mặt lạnh, buồn chợt loé lên một đốm sáng nhỏ, cô tò mò:
-Bác là hoạ sĩ?
-Chỉ là thứ nghiệp dư. Mà cháu này, bác ghét gắn cho mình mọi chữ sĩ, nó trói cuộc sống vào những cái khuôn. Còn cháu, cháu có thích vẽ không?
-Cháu đang học trường mỹ thuật, năm thứ hai.
-Vậy hả? Thế là bác cháu mình có một điểm gặp nhau.
Giọng ông chậm rãi, khàn đục, tầm nhìn không rời giá vẽ. Cô gái mất dần vẻ băng giá:
-Bác đang vẽ gì đó?
-Thoáng suy nghĩ nhỏ thể hiện qua hình ảnh một sinh linh chào đời.
-Thường thì nó có được đón nhận không?
-Nó có quyền xuất hiện, bất chấp mọi nghịch cảnh.
-Kể cả nghịch cảnh của cha mẹ?
-Đúng, cha mẹ không thể khước từ, một khi đã hình thành ra nó, nó có quyền được làm người, góp mặt. Đứa bé bước vào cuộc đời, không hào quang, cuộc đời mênh mông, bất trắc là một dấu hỏi lớn đang chờ khám phá.
Câu trả lời hình như khiến cô quan tâm, suy nghĩ, cô lại rơi vào trạng thái bất động. Ông già ngừng tay, nhìn cô gái. Ở cô, một chút xanh xao phớt trên gò má, một chút chán chường, cay đắng hiện lên đôi mắt, một chút ngậm ngùi, đau đớn thoát ra từ dáng dấp ray rứt, vời vợi đăm chiêu. Ông già thở dài, ngập ngừng, muốn nói nhưng lại thôi. Ông trở về với công việc. Trên khung vải xuất hiện thêm một phụ nữ, trong tư thế nghiêng mình, cúi xuống, một tay đỡ đầu, một tay đắp cho đứa bé bằng tấm áo choàng thủng lỗ chỗ. Nét mặt phụ nữ đầy vẻ thánh thiện, dịu dàng. Cô gái ngẩng đầu quay sang, cô chăm chú nhìn phác thảo chân dung người mẹ:
-Cảm xúc gì sẽ hiện lên trên khuôn mặt người phụ nữ?
-Vừa lo lắng, vừa hạnh phúc. Vượt lên tất cả vẫn là niềm vui, hạnh phúc tràn đầy.
Cô gái đứng lên:
-Bác không nghỉ à? Trưa rồi, cháu phải về.
- 0 –
Nắng bắt đầu nghiêng nghiêng về chiều, mùa đông vàng vọt, gió lao xao. Khung vải xuất hiện thêm người đàn ông. Người đàn ông trong tư thế nửa ngồi, nửa quỳ trên nền đất lạnh, thân hình cúi xuống, khuôn mặt vuông vức, quyết đoán, nổi lên những đường gân, ông với tay giúp vợ đắp kín tấm áo choàng rách cho đứa hài nhi.
Dưới hai hàng cây cao, xuất hiện một chàng thanh niên, đầu cúi thấp, dáng mệt mỏi, căng thẳng. Chàng chợt dừng lại, chú ý tới ông già:
-Bác đang vẽ gì thế?
-Một cuộc sống bắt đầu hình thành giữa muôn vàn bất trắc. Mà cháu có thích vẽ không?
-Cháu đang học trường mỹ thuật, năm thứ tư.
Ông già ngẩng lên, nhìn chàng trai:
-Lại một sinh viên mỹ thuật. Hình như cháu có tâm sự, đúng không?
Chàng trai thở dài, lảng sang chuyện khác:
-Theo bác, lúc đứa bé chào đời, tâm trạng cha mẹ chúng thế nào?
-Mỗi đứa bé chào đời là một niềm vui, một tự hào, một sức mạnh gắn bó cha mẹ nó vào cuộc sống, đồng thời cũng gắn cha mẹ nó vào trách nhiệm, vào nỗi khổ cực, vất vả, đôi khi là đắng cay.
Chàng trai thở dài, cúi đầu, lầm lũi bước đi.
- 0 -
Lại thêm một buổi sáng mùa đông, trời như pha chì loãng, đè nặng thêm. Cô gái tới, đứng sau lưng ông già, cô hơi ngạc nhiên trước khung vải trắng, không nét vẽ:
-Bác này, bức phác thảo hôm qua đâu rồi?
-Bỏ rồi, nó chưa đạt.
Ông quay lại nhìn cô gái, ánh mắt xoáy sâu:
-Theo cháu, người mẹ đẹp nhất vào lúc nào?
Cô suy nghĩ mung lung, rồi ngập ngừng:
-Có lẽ lúc đang cho con bú, đúng không bác?
-Bác cũng nghĩ vậy. Người mẹ đã dùng một phần cơ thể mình truyền sức sống cho con. Bầu ngực trần, no tròn, không mảy may gợi dục, mà thoát lên vẻ đẹp thanh khiết, thiêng liêng.
Ông chợt hỏi:
-Cháu tên gì vậy?
-Cháu tên Mai.
Ông nói thật nhỏ:
-Mai là tên một loài hoa, có sức chịu đựng trong bão tuyết, cũng có nghĩa là một ngày mới bắt đầu.
Ông lại cắm cúi phác thảo, từng nét đắn đo, chậm rãi, và cô gái lại chìm vào thế giới riêng, thế giới có lẽ tối, giống như khuôn mặt cô vướng vất nỗi buồn.
Dưới nét than mềm mại từ từ xuất hiện hình ảnh người mẹ trẻ, đang cho con bú. Khuôn mặt cúi xuống, đằm thắm yêu thương. Đứa bé nằm gọn trong vòng tay che chở, mắt nhắm, yên bình.
Ông ngừng tay, chợt hỏi:
-Cháu có nỗi buồn giấu kín, đúng không?
Cô nhìn ông già, ngập ngừng. Ông tiếp:
-Mai này! Cháu thấy bác có đáng tin cậy không?
Cô không trả lời thẳng câu hỏi, chỉ nói bâng quơ:
-Cuộc sống hầu như có quá nhiều thử thách vô phương vượt qua, đúng không bác?
-Muôn vàn thử thách thì đúng đó, nhưng vô phương vượt qua thì chưa chắc đâu. Cháu thử cho một thí dụ đi.
-Chẳng hạn cô gái lần đầu yêu say đắm một chàng trai, cô muốn sống đến tận cùng cảm xúc của mình. Kết quả một bào thai hình thành trong bụng.
Cô ngừng lại, lúng túng. Ông hỏi:
-Ý cháu muốn nói vì một lý do nào đó, chàng trai không có ý định tiến tới hôn nhân phải không nào?
Cô gái không trả lời, đầu cúi gục, đôi vai như rung lên. Một lúc lâu, cô mới ngập ngừng:
-Vậy theo bác, trong hoàn cảnh hoàn toàn bế tắc, cô gái nên làm gì?
-Cô gái ấy tên Mai, phải không cháu?
Ông nhìn cô gái, chờ câu trả lời.
-Bác thử cho cháu một lời khuyên đi.
-Bác rất ngại đưa ra những lời khuyên nhân danh đạo đức. Bác không phải ông toà, không phải nhà luân lý, cũng không phải nhà thuyết giáo. Pháp luật, đạo đức và tôn giáo đều không có luật trừ. Ở đó con người cụ thể trong cảnh ngộ cụ thể biến mất, tất cả bị đồng hoá thành một mẫu số chung. Vậy cháu quyết định thế nao?
Không hiểu vô tình hay cố ý đánh rơi chiếc khăn tay, cô lặng lẽ cúi xuống nhặt. Lúc ngước lên, đôi mắt buồn đỏ hoe, lời nói buốt lạnh như một nhát dao đưa:
-Cháu định phá thai.
Không gian chợt vắng lặng. Nét mặt ông già căng thẳng. Sau tiếng thở dài, ông chậm rãi, đắn đo từng lời:
-Đó là một chọn lựa quan trọng trong tình thế chẳng đặng đừng. Cháu nên nhớ, mọi chọn lựa đều có cái giá phải trả, cần thận trọng.
Ông tiếp:
-Bác hỏi thật, chàng trai ấy là ai vậy?
-Người ấy cũng học mỹ thuật, trên cháu hai lớp.
-Anh ấy biết cháu có thai chứ?
-Lúc cháu báo tin, anh ấy hoàn toàn căng thẳng, có vẻ bực bội, và cháu bỏ đi.
Ông dừng lại suy nghĩ hơi lâu:
-Lúc nãy cháu nói tới hai chữ bế tắc. Mà sao lại bế tắc?
-Vì cháu không đủ sức một mình gánh vác nỗi nhọc nhằn. Vì không thể sinh con giữa lúc còn đi học. Sinh con là tự huỷ hoại tương lai.
Ông nhìn sâu vào đôi mắt bắt đầu mọng nước của cô gái. Cô thu mình, nhỏ bé và cô đơn.
-Mai này, cháu hãy cố đợi dăm ngày, sau đó bác sẽ đề nghị với cháu một giải pháp, được không?
Cô đứng dậy, nhìn ông đăm đăm, không trả lời, chỉ gật đầu.
- 0 –
Cô gái đi khỏi khoảng một giờ, chàng thanh niên lại tới. Chàng trai ngồi trên ghế đá, cạnh ông già.
-Bác thay phác thảo à? Đến đâu rồi?
-Còn thiếu một nhân vật quan trọng: người cha.
-Người cha ấy thế nào?
-Độ lượng, bao dung, và rất mực thương yêu vợ con.
Dưới nét than, người đàn ông xuất hiện, vẻ nghèo khó, thân khoác một tấm áo mỏng. Người cha đứng, mắt hướng vào hài nhi đang bú mẹ. Một tay ông choàng qua lưng thiếu phụ, một tay kéo tấm áo thủng lỗ chỗ, cố che kín đôi chân nhỏ bé của hài nhi.
-À này, cháu tên gì nhỉ?
-Cháu tên Đông.
-Đông Mai, hợp đấy. Cây Mai sẽ đủ sức vượt qua bão tuyết giữa trời mùa Đông.
-Bác nói gì?
Ông chợt hỏi:
-Cháu quen một người con gái tên Mai phải không?
Chàng thanh niên ngạc nhiên:
-Sao bác biết? Mấy hôm nay cháu đang đi tìm cô ta.
-Chi vậy?
-Để hỏi cô một điều: cô có chịu lấy cháu không?
-Thật chứ? Cháu nói thật chứ?
-Đó là quyết định cuối cùng, sau những dằn vặt, cân nhắc.
-Vậy là đang có sự hiểu lầm. Cháu phải gặp cô ấy. Nỗi bất hạnh tàn phá cuộc đời nhiều khi đến từ những ngộ nhận nhỏ nhoi, không đâu vào đâu. Để bác giúp cháu nhá.
- 0 -
Thời gian qua. Lại một buổi sáng, sáng ngày thứ ba. Bức phác thảo đã xong, và ông ngồi chờ. Cuối cùng cô gái đến. Lúc ấy, trời chợt tươi tắn, hanh vàng. Nắng mềm trôi từng đợt theo tà áo lụa Hà Đông. Ông nheo mắt ngắm cô gái từ xa bước lại, như một tác phẩm chưa hoàn tất. Cô tới ngồi bên ông già.
-Phác thảo xong chưa bác?
-Xong rồi. Cháu xem có được không?
Cô gái lúi ra xa, nheo một bên mắt:
-Nó giống như cách thể hiện mới khung cảnh Giáng sinh.
-Đúng đó, bác muốn thể hiện một Giêsu trần trụi, không sinh ra trong vầng hào quang. Việc nhập thể phải là lựa chọn triệt để nhất thân phân làm người. Ngoài ra, điều bác quan tâm chính là cảm xúc của cha mẹ khi đón nhận đứa con. Cháu thấy sao?
Cô gái có vẻ thực sự xúc động, cô lập lại:
-Cảm xúc của cha mẹ.
Mắt cô thoáng mơ màng, hướng tới một không gian hình như đã có chiều sâu, có mầu sắc và hình khối.
-Mai này, trưa nay cháu ở lại đây với bác, được chứ?
Ông lấy tấm vải dầu, trải trên cỏ, bầy ra ít món ăn khô:
-Buổi trưa ngồi một mình, buồn quá.
Và chàng trai đến, sớm hơn mọi ngày. Hai người nhìn nhau, ngỡ ngàng.
-Em cũng ở đây à?
Cô gái cố ra vẻ lạnh lùng:
-Em đến xem bác vẽ.
Ông già đứng dậy, châm điếu thuốc rồi bỏ đi. Lâu sau ông quay về, đôi trai gái đang ngồi bên nhau thì thầm. Ông hắng giọng:
-Hai cháu giúp bác một việc được không?
-Nếu bọn cháu đủ khả năng.
-Được mà, với các cháu được mà. Bức tranh cần hoàn tất sớm, thời gian không chờ đâu, mà bác lại có việc phải đi. Hai cháu cố tiếp tục công việc hộ bác.
Chàng trai đắn đo:
-Theo bác nên bố cục màu thế nào?
-Bác nghĩ gam chủ đạo là mầu lạnh, u ám, phù hợp với trời mùa đông, đó là hình ảnh cuộc đời vây quanh, cuộc đời giăng đầy vướng mắc, cay đắng, xót xa. Ở chính giữa bức tranh thêm một chút gam mầu nóng, độ tương phản không gay gắt, nhưng đủ thể hiện niềm hạnh phúc ấm áp từ cuộc sống toát lên.
-Bọn cháu hiểu ý bác.
Cuộc trò chuyện kéo dài đến xế chiều. Trước khi đi, cô gái lấy bút ghi một mẩu giấy nhỏ, dúi vào tay ông già:
Chỉ còn mấy tiếng nữa là đến giờ Chúa sinh ra. Khi một đứa bé chào đời thì đứa khác không thể chết đi. Cháu đã tìm ra lời giải. Cám ơn bác.
Chàng trai xách khung vải đi sát bên cô gái. Ông già nhìn theo, mỉm cười.
- 0 -
Tuần sau, đúng dịp tết dương lịch, cô gái và chàng trai đem bức tranh đã hoàn tất tời tìm ông già. Ông đã đi rồi. Cô gái cất tiếng gọi:
-Bác ơi!
Và không có tiếng trả lời.
Cô gái hạ thấp giọng, câu nói như gió thoảng theo gió bay cao:
-Nét cọ của cháu đã thể hiện được niềm vui trên khuôn mặt người mẹ.
Đọc thêm!

Đêm Đông Không Nhà

Đọc thêm!

Thứ Sáu, 11 tháng 12, 2009

Họa sĩ Hồ Thị Kim Quỳ: Vẻ Đẹp của Cuộc Sống

WGPSG -- Để cảm xúc gắn liền với tác phẩm, tôi thiết nghĩ người nghệ sĩ cần phải sống thật gần với thiên nhiên, với con người và cũng cần có cái tâm thật thanh thản, dành thời gian chiêm nghiệm vẻ đẹp của cuộc sống. Cuộc đời và tác phẩm cũng sẽ thăng hoa từ cuộc sống ấy, cuộc đời ấy … đó là tâm sự của họa sĩ, nhà giáo, Hồ Thị Kim Quỳ.

Họa sĩ Kim Quỳ sinh ngày 30/9/1950 tại Huế, hội viên Hội Mỹ thuật VN, hội viên Hội Mỹ thuật Tp. HCM, hội viên danh dự câu lạc bộ Nữ Họa sĩ Kobalt, Tp. Hamburg CHLB Đức, ủy viên Ban Mỹ Thuật Đa Minh Ba Chuông. Năm 1972 chị tốt nghiệp cử nhân khoa Hội họa, Mỹ thuật Tạo hình hệ chính quy trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn, và tham gia triển lãm tranh liên tục cùng với các họa sĩ tại Sài Gòn, ở các trung tâm Hội Việt Mỹ, Phủ Quốc Vụ Khanh Sài Gòn, nhà Mỹ Thuật Sài Gòn, gây được nhiều cảm tình của công chúng thời bấy giờ.



Năm 1976-1978 sau khi thống nhất đất nước, chị vẫn tiếp tục sáng tác, triển lãm tại Hội Mỹ thuật VN và Hội Mỹ thuật Tp. HCM.
Năm 1996 chị được mời tham dự triển lãm “cuộc chiến nhìn từ hai phía” của tổ chức Indochina Art Partnership USA, chị đã thành lập xưởng vẽ và Gallery giới thiệu tranh cá nhân tại Virginia Hoa Kỳ.
Đến năm 1997 chị được bầu làm Chủ nhiệm Câu lạc bộ Nữ Họa sĩ Tp. HCM nhiệm kỳ 1997-2000, cũng trong thời gian này vào tháng 3/1999 chị được mời tham gia triển lãm và báo cáo khoa học “sơn mài Việt Nam từ cổ truyền đến hiện đại,” tại hội thảo chuyên đề phụ nữ của 4 nước Châu Á tại Manila, Philippines.
Đến tháng 3/2000 chị tham gia triển lãm Nữ Họa sĩ Việt Nam và CHLB Đức tại Hamburg, Đức.
Năm 2000-2005 là thời gian sống và sáng tác ở Virginia Hoa Kỳ. Với bản chất là người con xứ Huế, yêu quê hương như yêu đồng lúa chín, luôn nhớ những kỷ niệm đã qua cộng với hoài niệm của một người con xa xứ, trong chị luôn có cảm giác nhớ mùi hương rơm rạ, mùi cỏ cây đồng nội, mùi lúa non chưa đến ngày gặt ở những cánh đồng xanh ngắt và nhất là nhớ hoa dại mọc ven đường, phảng phất trong gió mùi hương con gái… Thế là chị quyết định trở về nước tham gia giảng dạy tại Đại học Tôn Đức Thắng và Kiến Trúc Tp. HCM
Năm 2006, chị viết báo cáo khoa học “Làm thế nào để nâng cao tính chủ động và sáng tạo của sinh viên ngành mỹ thuật ở các trường đại học,” với ước mơ cung cấp hành trang kiến thức, giúp sinh viên nước nhà thành công trên con đường học vấn. Nhưng ước mơ cũng chỉ là mơ ước vì theo số liệu của ngành Giáo dục Tp. thống kê trong 10 năm: 1999-2009, có hơn 278 trường Đại học, Cao đẳng mới thành lập, thời kỳ này Đại học mọc lên như nấm, dồn dập ra đời, nên chưa chuẩn bị được đội ngũ giảng viên chất lượng. Các trường được nâng cấp ồ ạt bất chấp tiêu chuẩn, cơ sở vật chất thiếu tính chuyên nghiệp, mỗi năm đều có số lượng sinh viên ra trường và số lượng sinh viên nhập học. Các trường chỉ chạy theo thành tích và lợi nhuận, nên dẫn đến kết quả là sinh viên sau khi ra trường, con nhà khá giả thì cha mẹ cho tiền học tiếp lên cao học, hoặc về phụ giúp kinh doanh với gia đình, số còn lại đa số là thất nghiệp, hoặc phải làm một nghề tay trái nào đó để đổi lấy miếng cơm, manh áo.
Muốn nâng cao tính chủ động và sáng tạo thì phải có phòng ốc chuyên nghiệp, trưng bày các bài tập của sinh viên và các tác phẩm của các thầy, cô để các em quan sát, so sánh, học hỏi, sáng tạo giữa đời thường, nhưng trường đại học thì lớp còn thiếu, nói chi đến không gian trưng bày tranh tượng. Nhiều ước mơ và nỗi niềm của chị cứ lặng lẽ trải dài theo tháng ngày dần trôi… Thời gian này, nghệ thuật của chị chín mùi ở chiều sâu tâm linh, hướng nỗi niềm của mình về Đấng Tối Cao. Được thể hiện qua các tác phẩm sơn dầu: Niềm tin Thiên Chúa, Hành Hương về Đất Thánh, Lời Nguyện Cầu, Cõi Vĩnh Hằng… Tham gia triển lãm nhiều lần tại giáo xứ Đa Minh Ba Chuông (Mỹ thuật Tôn giáo và Nhân văn 1, 2), tại Trung tâm Văn hóa Công giáo (Dấu ấn Đức tin 1, 2). Hiện nay chị là ủy viên Ban Mỹ thuật Đa Minh Ba Chuông.
Hơn nữa Kim Quỳ còn là tên của một loài hoa Cúc Quỳ ở VN thường nở vào mùa đông, vàng rực cả triền đồi và thảo nguyên, loại cây này có thể coi như loại cây báo hiệu sự chuyển mùa, khi hoa Quỳ nở có nghĩa là mùa xuân đã đến rất gần… thật gần.
Nhân dịp năm Thánh Phaolô (28/6/2006-29/6/2009) tại giáo xứ Đa Minh Ba Chuông, Họa sĩ Kim Quỳ được sự động viên và khích lệ của cha An Phong Vũ Đức Trung, Giám đốc Trung tâm, chị đã tổ chức triển lãm tranh, chủ đề Thầy và Trò, ngày 14/6/2009, giới thiệu bài tập của 90 sinh viên và tác phẩm của các thầy Trương Văn Ý (nguyên Hiệu trưởng Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn), thầy Trần Châu, thầy Nguyễn Đắc, nhằm nhắc lại hoa trái của Thầy Giêsu để lại cho trò Phaolô với niềm tin: Trò là sự tiếp nối của Thầy, đã gây được nhiều tiếng vang lớn. Và nhất là các em sinh viên được dịp chủ động và tha hồ sáng tạo nghệ thuật tình yêu Thiên Chúa trong một gallery ấm cúng, rộng rãi, sang trọng, trí thức, bậc nhất tại Tp. HCM hiện nay.
Qua lời tâm sự của em Minh Hưng, sinh viên tham dự triển lãm tranh Thầy và Trò, “Không có niềm tin vào Thiên Chúa và sự hướng dẫn của thầy cô, thì chúng em không có được sự thành công của triển lãm Thầy và Trò, mà trong đó, người đầu tiên chúng em tri ân là cô Kim Quỳ, người đã đóng góp một công sức lớn trong việc tạo ra một sân chơi mới cho sinh viên cũng như sự thành công của sân chơi đó. Mỗi chúng em đều có trong mình một ngọn lửa yêu nghệ thuật, đam mê nghệ thuật, bởi vì mỗi người chúng em ai cũng thích cái đẹp, nhưng quan trọng là có người thắp lên ngọn lửa đó hay không. Cô là người đã được Chúa Thánh Thần soi sáng, thắp lên ngọn lửa: ngọn lửa yêu thương, ngọn lửa hy sinh, thắp lên niềm tin cho mỗi chúng ta bước đi trên con đường nghệ thuật… Không phải chờ đến ngày nhà giáo VN 20/11 mới gửi lời tri ân tới cô Kim Quỳ, mà ở trong tâm hồn em, ngày nào cũng nhớ đến người cha, người mẹ thứ hai, đã dạy dỗ chúng em biết quên mình, vì chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân.”
Đọc thêm!

Thứ Ba, 3 tháng 11, 2009

Họa sĩ Lê Văn Đệ: người đầu tiên khám phá tranh lụa truyền thống Việt Nam

WGPSG -- "Trong cuộc đời và trong cả hội họa cũng vậy, rất có thể anh bỏ qua không cần Thượng Đế, nhưng anh, kẻ khổ đau, anh không thể bỏ qua không cần tới một điều cao hơn: chính là đời anh, quyền năng sáng tạo." Đó là câu nói của danh họa Vincent VanGogh mà Giáo sư họa sĩ Lê văn Đệ thường nói với các học sinh trường Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định ngày xưa.


Họa sĩ Lê văn Đệ (24/8/1906-16/3/1966) sinh tại Mỏ Cày, Bến Tre, trong một gia đình nhà nho. Thân sinh là cụ Lê Quang Hòe. Gia đình có 13 người con, Lê văn Đệ là con thứ mười nên ở nhà có tên là Dix (Mười). Học trung học tại trường Taberd Sài Gòn rồi thi vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương Hà Nội, năm 1925. Ông học với giáo sư họa sĩ người Pháp Victor Tardieu và Joseph Inguivaberty. Các bạn cùng thời với ông sau này đều nổi tiếng, như họa sĩ Nguyễn Phan Chánh, Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn… Sau 5 năm theo học, ông đậu thủ khoa năm 1930, khóa I Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, và được học bổng du học Pháp.
Thời gian này ông đã tạo được điểm son trong lịch sử mỹ thuật VN: Hội Nghệ sĩ Quốc gia Pháp, tại Paris ngày 1/5/1932 tổ chức cuộc triển lãm tranh, tượng; ông đoạt giải nhì với ba tác phẩm Mụ Thầy Bói, Bến Ga Monparnass, và Người Đàn Bà Cài Đầu.
Trong những năm học tại Paris, tác phẩm của ông luôn gây được sự chú ý tại thủ đô Ánh Sáng. Với thành tích rực rỡ này ông được nhận thêm học bổng tu nghiệp tại Ý và Hy Lạp.

Theo Đông Dương Tuần báo, vào năm 1934 , có hơn 40 tờ báo Pháp đề cập đến tác phẩm của ông. Ông được Bộ Văn hóa Pháp chọn mua bức tranh Trong Gia Đình, và được treo trang trọng ở Bảo tàng Mỹ thuật Luxembourg.

Năm 1936, Tổ chức Báo chí Công giáo bảo trợ tại Rôma mở cuộc triển lãm tranh, tượng, quy tụ nhiều nghệ sĩ nổi tiếng của 30 quốc gia trên thế giới: tác phẩm của ông đoạt giải nhất.

Sau đó ông được mời phụ trách trang trí trong điện VATICAN và được ban thưởng Giáo Hoàng Bội Tinh, đây là một vinh dự cho dân tộc Việt Nam. Công trình do ông chỉ đạo thực hiện đã được báo chí Ý, Pháp, và nhiều nước trên thế giới đánh giá cao về chất lượng, tuy số lượng không nhiều. Đa phần tác phẩm của ông nằm trong các sưu tập ở bảo tàng Pháp, Ý, và một số tranh chân dung các chức sắc trong tòa Thánh Vatican như: chân dung Đức Giáo Hoàng PIO XI, chân dung Đức Hồng Y Verdier, chân dung các thiếu nữ Ý, Pháp và một số tranh tôn giáo: Đức Mẹ Từ Bi, thánh Madeleine dưới chân Thập Giá (bức này được Viện bảo tàng Mỹ thuật giáo sĩ thừa sai Vatican mua), Mẹ và Con (Viện bảo tàng Mỹ thuật Aix Lachapelle đặt mua)

Năm 1936, ông được Đức cha Celso-Costantins, Thư ký Bộ Truyền giáo Vatican rửa tội với tên thánh Celso-Léon Lê văn Đệ. Với bản chất là người dân Nam Bộ, mộc mạc, bình dị, thích cái đẹp thôn dã của quê hương, nên ông quyết định trở về nước sau gần 10 năm học tập, nghiên cứu, sáng tác và nổi danh ở Châu Âu.

Thời gian về nước là giai đoạn ông hoàn thiện kỹ thuật vẽ tranh lụa, phối hợp nền hội họa Thủy Mặc nghìn năm của Trung Quốc, với bố cục và tỷ lệ vàng của các họa sĩ thời phục hưng ở Châu Âu, sáng tạo ra nền hội họa tranh lụa truyền thống VN. Bản chất lụa Việt Nam, là loại lụa tơ tằm, có gân, thớ lụa không mịn và đều như lụa Trung Quốc. Phần lớn họa sĩ miền Bắc dùng lụa Hà Đông, ở miền Nam dùng lụa Tư Cua ở Gia Định. Trước lúc vẽ, lụa được căng lên khung gỗ, và tẩy bằng chanh hoặc phèn chua đề phòng dán, mọt gặm nhấm.

Khi vẽ thì không vẽ theo lối công bút của Trung Quốc mà là nhuộm màu từng bước, mỗi lần vẽ xong phải rửa cho cặn màu trôi đi, sau đó lại nhuộm thêm cho đến khi thấy độ màu ổn định mới thôi. Một bức tranh lụa đẹp, ngoài nội dung, bố cục, màu sắc, phải thể hiện được sự óng ả của thớ lụa, chất lụa. Nếu vẽ rửa nhiều nước thì độ mướt của chất lụa sẽ giảm, chà cọ nhiều tơ lụa sẽ bị xù lông, hoặc mặt lụa bị lì, lụa không còn độ bám của màu nữa, lúc đó người vẽ phải thay lụa mới. Màu trắng trong tranh thường được chừa lại bằng nền lụa, ngoài nét ra, các mảng thường được dùng cọ bản để đánh màu cho tan đều, chuyển độ trung gian giữa nét và khối hòa quyện vào nhau. Chính vì thế, tranh của ông thường óng ả, mềm mại, thớ lụa rõ ràng, bố cục mạch lạc, quý phái, dễ tạo nên cảm giác có một lớp nước rất mỏng, trong trẻo, dịu dàng, đưa người thưởng ngoạn quên đi phần nào cái đau khổ của phận người, của một kiếp phù sinh.

Năm 1942, ông quy tụ các họa sĩ tài danh lúc bấy giờ, lập ra nhóm Nghệ thuật An Nam, tổ chức nhiều triển lãm gây tiếng vang lớn, với những tác phẩm đi vào lòng người như: bức tranh lụa Rèm Thưa, Mẫu Tử, … tại Hội chợ Triển lãm Mỹ thuật Quốc tế lần I ở vườn Tao Đàn Sài Gòn; bức Nắng Hè là một trong những bức tranh lụa nổi tiếng nhất vào những năm cuối đời ông; năm 1959 Sở Văn hóa Thông tin Hoa Kỳ đã in trang nhất, bìa lịch tết để tặng bạn đọc.

Tranh lụa Lê Văn ĐệĐến năm 1954, Hiệp định Genève chia đôi đất nước, một số giáo sư và sinh viên Mỹ thuật di cư vào Nam. Chính phủ thời bấy giờ quyết định thành lập trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định, và cử họa sĩ Lê văn Đệ làm Hiệu trưởng đầu tiên của trường. Những sinh viên khóa đầu tiên do vị thầy khả kính Lê văn Đệ hướng dẫn đều đã thành danh như họa sĩ Hiếu Đệ, Trương Thị Thịnh, Vũ Thị Ngà, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Thanh Thu (điêu khắc gia), Lê Thành Nhơn (ĐKG), Đỗ Quang Em, Nguyễn Trung, Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Lâm … và nhiều họa sĩ nổi tiếng khác.Giáo sư họa sĩ Lê Văn Đệ là Giám đốc của trường, nhưng ông là một con người bình dị, thích cái đẹp thôn dã, giàu lòng vị tha, và đặc biệt rất thương học trò; nên ông chọn dạy lớp căn bản cho các tân sinh viên. Đối với học sinh, ông là người nổi tiếng sửa bài hay nhất, chỉ cần một nét quệt ngón tay của thầy vào bài là sẽ thấy ngay chỗ sai, nét than bay bớt đi, nét nhấn khối đậm thêm, bố cục mới được chắc, đậm nhạt, âm dương giao hòa.Từ thưở ấu thơ cắp sách đến trường, chúng ta đã được thầy cô dạy dỗ những bài học đạo đức đầu tiên, giúp chúng ta nên người như hôm nay; là một người trò chúng ta không thể nào quên truyền thống “không thầy đố mày làm nên” mà ông cha ta đã truyền dạy từ bao đời nay. Chính thầy cô đã chắp cánh cho những ước mơ của chúng ta bay cao, cung cấp hành trang, kiến thức cho chúng ta vào đời, giúp chúng ta thành công trên con đường học vấn. Thế nhưng sau khi ra đời có mấy ai còn nhớ về thầy cô giáo cũ của mình?Tháng 11 là tháng cầu cho các linh hồn, và ngày nhà giáo VN 20/11 sắp đến; đây cũng là dịp chúng ta và các đồng nghiệp thắp lên một nén hương lòng, tưởng nhớ đến một họa sư bậc thầy có công đặt nền móng vững chắc cho nền Nghệ thuật Hiện đại Việt Nam.
Đọc thêm!

Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2009

Người đầu tiên khai phá tranh Mỹ thuật Sơn mài Việt Nam

WGPSG -- Vẽ tranh là phương tiện để tu tập, hội họa rất gần với tôn giáo vì nó xuất phát từ tâm con người. Bởi lẽ nghệ thuật vốn dĩ là vô cầu, vì vô cầu nên nó hướng đến một cái gì đó rất cao. Đó là châm ngôn của họa sĩ bậc thầy Nguyễn Gia Trí.


Họa sĩ Nguyễn Gia Trí sinh ngày 6 tháng 10 năm 1912, tại làng Thịnh Hào, Ngã tư Sở,   Hà  Nội, học sinh trường Bưởi rồi vào học ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, ngành hội họa năm từ 1931-1938. Thầy của ông là họa sĩ người Pháp, Inguimberty. Trong thời gian này ông đã khai phá con đường đưa sơn ta của mỹ nghệ truyền thống, sơn son thiếp vàng trở thành tranh mỹ thuật sơn mài là chất liệu hội họa bản sắc của Việt Nam. Ông qua đời ngày 26 tháng 6 năm 1993.
Một ký giả người Pháp viết về mỹ thuật Việt Nam đương thời đã nhận xét: ”Nguyễn Gia Trí có một giai đoạn ngắn dường như cố gắng làm cho sắc độ của con người, cây cối, thú vật, quần áo, phong cảnh, trong tranh ông đạt được sự chân thực hoàn hảo. Nhưng ông đã nhanh chóng từ bỏ nỗ lực ấy để chỉ chú tâm vào các phương tiện của sơn mài, nhằm nâng sơn mài lên trình độ của sơn dầu.”
Sơn mài khác hẳn sơn dầu ở chỗ mặt tranh bóng, phẳng gần như tuyệt đối. Không gian của nó lặn vào bên trong rất sâu, đó là tính âm của nó cùng với các màu cơ bản (vàng, đỏ son, đen) là các màu ngả về âm, màu của không gian cung đình chùa chiền ngày xưa. Và nhịp của nó là nhịp chậm, từng bước từng bước thầm hình thành từ từ qua từng công đoạn. Công đoạn làm vóc: bó vải, hom, mài xả, lót... cho tới phẳng. Công đoạn vẽ: vẽ, ủ, mài xả, phủ, mài bóng, đánh bóng... cho đến hoàn thành. Chính những đặc điểm ấy đã tạo ra những thách đố đối với những tác giả vẽ tranh sơn mài. Ngược hẳn với sơn dầu thuộc về tính dương đòi hỏi sự truyền cảm trực tiếp, bộc phát vào những nét, mảng, gồ ghề, tạo matiere, hay đường tút của bay, cọ...
Vào năm 1940, họa sĩ Nguyễn Gia Trí được đánh giá ông là người thành công nhất VN. Tác phẩm của ông được tính giá tấc vuông (1dm2) 1 tấc vuông giá bằng 1 lượng vàng và hầu như chỉ có dân Tây thượng lưu mới có khả năng mua tranh của ông. Họ đặt tranh ngay từ khi mới trông thấy phác thảo, hai vợ chồng công sứ Cresson xắn quần, nhấc váy lội nước vào làng Thịnh Hào để mua tranh ông. Họ gọi ông là Génie Asiatique (thiên tài Châu Á). Những tác phẩm tiêu biểu của ông như: Chợ Bờ, Bên Hồ Gươm, Chùa Thầy, Đèn Trung thu, Đêm Bồ tùng linh, Khỏa thân, Cảnh thiên thai (đây là bức tranh khỗ lớn được toàn quyền Đông Dương Decoux đặt làm năm 1943), tác phẩm: Thiếu nữ trong vườn (là tác phẩm lớn nhất, gồm 6 tấm ghép lại 12 mét vuông bán cho ông bà Drouin Giám đốc Sở Điện nước Miền Bắc Đông Dương).
Và một tác phẩm độc đáo của ông có đề tài Kitô Giáo là bức Giáng Sinh thực hiện năm 1941 do một phụ nữ quý phái người Pháp đặt tặng cho Dòng Đa Minh, bức tranh gồm 3 tấm ghép lại (có kích thước tổng cộng là 1,3m X 2,37m) điểm độc đáo của tác phẩm này là ông đã Việt hóa hoàn toàn quang cảnh và các nhân vật trong Kinh Thánh, ba vị Thiên Thần đứng trên mây là ba cô gái tân thời duyên dáng trong tà áo dài màu lam, lục và trắng, một trong ba cô gảy đàn tì bà. Thánh Giuse và Mẹ Maria là hai nguời nhà quê áo sồi, quần gụ. Ba người trong bóng tối góc bên phải đầy tính biểu hiện, ba trạng thái tinh thần của chúng sinh: Người thành kính hướng về Chúa Hài Đồng là kẻ có niềm tin; người thản nhiên nhìn ra ngoài là kẻ bàng quan; người nằm nghiêng gối đầu trên cánh tay say ngủ là kẻ còn chìm đắm trong u mê. Và thay cho máng cỏ, chuồng lừa, hang đá, ở đây là cái chuồng trâu với một con trâu trắng. Tác phẩm này đã bị lưu lạc cùng thời cuộc. Năm 1954, trước khi Hà Nội về tay chính phủ kháng chiến, tu viện Têrêsa đã đưa nó sang Dòng chính ở Lyon. Các vị tu sĩ ở tu viện Corbusier chắc là không hiểu giá trị của tấm tranh, nên để ở dưới sàn nhà nguyện, quay mặt ra sau làm bảng viết. Năm 1955 linh mục Pineau của Dòng Đa Minh được cử sang Sài Gòn, biết việc ấy đã xin đưa bức tranh trở lại VN. Đến cuối năm 1959 đầu 1960 mới được đưa về Sài Gòn, và từ đó nó nằm ở nhà nguyện Dòng Đaminh Mai Khôi đường Tú Xương, Q.3 cho đến nay. Linh mục Thiện Cẩm, Bề trên Dòng Đaminh cho biết, trước đây có một vị Khâm sứ Tòa Thánh Vatican ngỏ ý muốn mua tác phẩm độc đáo này, với giá của một căn biệt thự nhưng Nhà Dòng không bán.
Giai đoạn thứ hai của sự nghiệp họa sĩ Nguyễn Gia Trí gắn bó với Sài Gòn-TPHCM từ năm 1954-1993, song chủ yếu là 20 năm từ 1954-1975 là thời kỳ ông có nhiều điều kiện thuận lợi nhất để sáng tác và hoàn thiện nghệ thuật sơn mài ở đỉnh cao. Những tác phẩm quan trọng nhất của ông sau năm 1954 là bộ lịch sử Việt Nam gồm các bức “Địa linh hoán tượng, Hai bà Trưng, Trận Bạch Đằng, Ba Vua (1960) và bộ tranh cho thư viện Quốc Gia gồm ba bức Hoài niệm xứ Bắc,Trừu Tượng, Múa dưới Trăng (1968-1969) Vườn Xuân (1970) và tác phẩm cuối cùng Vườn Xuân Trung Nam Bắc, thực hiện kéo dài trong nhiều năm. Tác phẩm này do bác sĩ Tín đặt hàng (người sản xuất dầu gió khuynh diệp nổi tiếng ở miền Nam) bức tranh 9 tấm, kích thước 2m X 5,4m nói lên tâm tư nguyện vọng của ông vào lúc cuối đời. Sau năm 1975 người đặt tranh đi định cư ở nước ngoài, trong điều kiện khó khăn về kinh tế ông vẫn quyết tâm hoàn thành tác phẩm. Đến năm 1990 thì Chủ tịch UBND TPHCM, ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp quyết định mua tác phẩm này với giá 600 triệu đồng VN tương đương 100.000 Đôla, là một kỷ lục về giá tranh ở Việt Nam.
Họa sĩ cùng thời với ông là Tô Ngọc Vân nhận xét: “Sức truyền cảm ma quái của sơn ta, dưới bàn tay phù thủy Nguyễn Gia Trí thì những màu hồng nhạt biến hóa thành nhửng sắc nâu ngon thiệt là ngon, những vỏ trứng như đổi cả thể chất thành vật quí, vài nét bạc, vài nét vàng sáng rọi, rung lên, rít lên, như tiếng kêu sung sướng của xác thịt khi vào cực lạc. Chàng nghệ sĩ ấy yêu tấm sơn mài như yêu một người đàn bà. Lúc âu yếm bằng những nét vuốt mềm mại, lúc dữ dội bằng năm bảy nét quệt mạnh, đập tung, cào cấu. Trong những sắc màu ấy như ẩn như hiện một chút gì huyền ảo, đắm say nồng nàn, còn run rẩy trong bóng tối hòa với một sức sống còn bế tắc, một linh hồn kiên quyết, đam mê đang quằn quại vì muốn thoát nhanh ra ngoài ánh sáng.”
Thật vậy, dưới bàn tay phù thủy Nguyễn Gia Trí, vỏ trứng từ một vật cứng cũng trở thành mềm mại, vì tạo ra đủ sắc độ của màu xám, vàng, nâu, trắng. Lúc thì như thứ bình men rạng cổ kính, lúc toát lên trên nền đen như được soi rọi bằng những ánh đuốc đêm hoa đăng, lúc đông đặc như cẩm thạch, lúc kết tinh như kim cương, lúc mỏng mờ như cơn mưa phùn, lúc rờn rợn bóng tối mờ ảo trên tường rêu của Liêu trai chí dị.
Tác phẩm sơn mài của họa sĩ Nguyễn Gia Trí quả thật có nguồn gốc sâu xa ở quan niệm tâm linh, vì đối với ông sáng tạo nghệ thuật chỉ là phương tiện để tu tập, ông thường nói: “Tôi tìm tòi và sáng tạo với tất cả linh tính, không phải sáng tạo bằng mắt, bằng tay, mà gần như người mù sờ soạng, mò mẫm trong đêm tối để tìm cái đẹp. Như người mẹ mang thai, không thể bắt con mình là trai hay gái, đẹp hay xấu, mà cầu mong ở chính con người mình, ở chính phúc đức, và chính thể chất của mình sẽ sinh ra đứa con lành lặn, đẹp đẽ."
Họa sĩ Nguyễn Gia Trí, một đời tìm tòi sáng tạo đã đưa mỹ thuật sơn mài lên ngang hàng với hội họa hiện đại. Được minh chứng bằng những kiệt tác đi vào lòng người, và bất tử với thời gian, qua phong cách hòa quyện bản sắc dân tộc dân gian với trường phái sơn dầu hiện đại, bằng cái tâm vô cầu và bản chất dấn thân, phó thác cho nghệ thuật đến tận cùng, ông xứng đáng là một “Minh Sư” có công dẫn dắt chúng ta đến đại dương mênh mông của cái Đẹp.
Đọc thêm!